[Review] Sách: Kinh tế học thời khó nhọc – Good Economics for Hard Times by Abhijit V.Banerjee & Esther Duflo

Kinh Tế Học Thời Khó Nhọc – Abhijit V. Banerjee; Esther Duflo

Trong thời gian gần đây, với việc Donald Trump tái đắc cử tổng thống Mỹ, cả thế giới lại được một phen nóng sốt với hai vấn đề cực kì nổi cộm, ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế – chính trị – xã hội: đó là vấn đề nhập cư và thương mại tự do. Ngay khi Trump lên nắm chính quyền, ông đã lập tức ký sắc lệnh trục xuất những người nhập cư bất hợp pháp vào Mỹ, đồng thời lên tiếng đe dọa tăng mức thuế suất đối với các mặt hàng nhập khẩu từ nước khác, đặc biệt là Trung Quốc, Canada, và Mexico.

Khi theo dõi các ý kiến tranh cãi xoay quanh quyết sách này, mình không khỏi nhớ đến một quyển sách rất hay mà mình từng đọc. Cuốn sách có tựa đề: “Good economics for hard times” – Kinh tế học thời khó nhọc. Phải nói rằng, đây là một quyển sách có tính thời sự rất cao, và nhờ nó mà mình có thể lý giải thấu đáo hơn những căng thẳng đang diễn ra ở Mỹ nói riêng và trên thế giới nói chung ngày hôm nay.

Quyển sách được viết bởi hai nhà kinh tế học đạt giải Nobel là Abhijit Banerjee and Esther Duflo, nhưng lại không mang nặng tính hàn lâm học thuật, mà khá dễ tiếp cận với đa số người đọc phổ thông. Nói là vậy nhưng mình cũng không cho đây là một cuốn sách nhẹ đầu, bạn vẫn cần thật sự tập trung để nắm bắt mạch luận điểm của tác giả, và gần như từng câu mà tác giả viết ra đều đáng để ghi chú lại (ít nhất là đối với mình). 

Cuốn sách tập trung xoay quanh những thách thức kinh tế lớn nhất ngày nay, như là nhập cư, thương mại, tự động hóa, bất bình đẳng xã hội và tăng trưởng kinh tế. Trong đó, tác giả muốn dùng những nghiên cứu thực chứng của mình để xóa bỏ các định kiến sai lầm mà mọi người thường có, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng thay vì biến nó thành những diễn ngôn chính trị để dẫn dắt dư luận.

Mặc dù những vấn đề mà tác giả đề cập trên là bài toán chung của rất nhiều quốc gia đã và đang phát triển, nhưng có lẽ không có một nước nào mà sự chia rẽ và phân cực trong tư tưởng lại quyết định đến cán cân thế giới nhiều như Mỹ. Và khi theo dõi diễn biến của cuộc tranh cử tổng thống Mỹ vừa qua, mình hoàn toàn hiểu được động lực của tác giả khi viết quyển sách này, bởi có quá nhiều luận điệu chính trị đưa ra chỉ dựa trên lý thuyết kinh tế được đơn giản hóa quá mức mà thiếu đi cái nhìn toàn cảnh.

Đơn cử như là về vấn đề nhập cư. Mặc dù đối tượng mà Trump ra lệnh trục xuất là những người nhập cư bất hợp pháp, và điều đó là hoàn toàn đúng xét trên khía cạnh luật pháp cũng như an ninh quốc phòng, thế nhưng khi nhìn vào những cuộc thảo luận trên mạng, mình có thể thấy ẩn sâu bên dưới là bóng dáng của một sự bài xích nhập cư nói chung.

Bỏ qua những quan ngại liên quan đến yếu tố văn hóa, một diễn ngôn thường xuyên được đưa ra là người nhập cư đến sẽ “cướp đi” công ăn việc làm của người dân bản xứ, cũng như kéo mặt bằng tiền lương của người lao động trình độ thấp đi xuống. Phe chống đối thường trích dẫn một báo cáo do Steven Camarota, giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Nhập cư, thực hiện. Báo cáo này kết hợp số liệu việc làm của cả người nhập cư hợp pháp và bất hợp pháp tại Mỹ nhằm củng cố quan điểm rằng người nước ngoài đang chiếm phần lớn tăng trưởng lao động của Mỹ và hưởng lợi nhiều nhất.

Dựa vào những nghiên cứu với số liệu cụ thể, hai tác giả đã chỉ ra rằng, hầu như có rất ít bằng chứng cho thấy người nhập cư kéo tiền lương đi xuống, và họ không lấy mất đi công việc, mà thường là bổ khuyết vào những vị trí mà người bản địa vốn không muốn làm, thậm chí giúp người bản địa được thăng tiến lên những chức vụ quản lý cao hơn. Những công việc không tuyển được đủ người nhập cư vào làm thường sẽ được đẩy mạnh tự động hóa, hoặc đơn giản là bỏ qua hẳn.

Hơn nữa, trái với suy nghĩ thông thường là cứ ở đâu lương cao thì người người nhà nhà sẽ ùn ùn kéo đến, quyển sách dẫn chứng nhiều kết quả thử nghiệm cho thấy con người có một sức ì rất lớn. Họ không dễ gì từ bỏ nơi sinh sống và các mối quan hệ quen thuộc của mình để đến một vùng đất mới với đầy rủi ro bất định, trừ phi là quê nhà của họ thực sự quá khó khăn không thể ở được nữa.

Với những luận điểm trên, hai tác giả muốn mọi người nghĩ về vấn đề nhập cư với một cái nhìn cảm thông hơn, để từ đó đưa ra những chính sách quản lý phù hợp, đặc biệt khi suy xét đến yếu tố nhân đạo trong việc tiếp nhận nhập cư tị nạn. Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó, mình cho rằng tác giả cũng có phần thiếu sót khi chưa nói chi tiết hơn về những biện pháp thực tiễn để kiểm soát nhập cư hiệu quả, bởi không phải trường hợp nào thì nhập cư cũng là tốt.

Nhập cư sẽ có lợi nếu như thị trường việc làm và các nguồn lực khác trong xã hội còn dư địa để hấp thụ lượng người đi vào. Trường hợp đó sẽ tránh được cạnh tranh lao động trực tiếp, mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, nếu số lượng việc làm ở quốc gia sở tại đang bị giới hạn, hệ thống phúc lợi xã hội đang căng cứng, thì việc tiếp nhận lượng lớn người nhập cư vào trong thời gian ngắn sẽ dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực.

Khi nhìn sang Canada, nổi tiếng là một nước thân thiện với người nhập cư, mình có thể thấy được làn sóng phẫn nộ của người dân đối với chính sách nới lỏng cho nhập cư ào ạt của nhà nước trong thời gian gần đây (số lượng người nhập cư tăng từ khoảng 260 ngàn người năm 2014 lên gần 500 ngàn người năm 2024, mức tăng gần như gấp đôi). Hệ quả kéo theo là tỷ lệ thất nghiệp của nước này đã tăng cao, đạt mức cao nhất là 6.8% vào tháng 11 năm 2024, được cho là do tốc độ tăng trưởng dân số vượt quá tốc độ tạo ra việc làm.

Vậy nên các nhà lãnh đạo cần phải hiểu được thực tế hoàn cảnh kinh tế của đất nước mình để đưa ra chính sách phù hợp nhất, đồng thời giữ một thái độ ôn hòa tỉnh táo, không bài bác hạn chế, nhưng cũng không nên nới lỏng quá mức.

Chủ đề tiếp theo trong cuốn sách khiến mình thấy hứng thú nhất chính là vấn đề thương mại. Trong đó tác giả chỉ ra rằng, mặc dù thương mại tự do có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tổng thể, nhưng lợi ích và chi phí của nó không được phân bổ đồng đều trong xã hội.

Trong suốt một khoảng thời gian dài, đặc biệt là thập kỷ đầu của thế kỷ 21, việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan, tạo ra một thế giới toàn cầu thật sự phẳng, dường như là phương châm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của gần như mọi quốc gia. Chiếu theo lý thuyết kinh tế cổ điển, điều này là hoàn toàn hợp lý, bởi mỗi quốc gia sẽ tối ưu được chi phí khi ưu tiên sản xuất những mặt hàng mà mình có lợi thế cạnh tranh tương đối, và nhập vào những mặt hàng còn lại.

Tuy nhiên, như tác giả chỉ ra, lợi ích tổng thể này không được chia đều cho tất cả, mà có những nhóm ngành chịu tổn thất nghiêm trọng, kéo theo nền kinh tế của cả một khu vực địa phương đi xuống. Công cuộc chuyển đổi sang công việc mới, bao gồm việc phải chuyển đi nơi khác để sống, là không hề dễ dàng đối với rất nhiều người lao động, đặc biệt khi họ thiếu kỹ năng hoặc cơ hội phù hợp.

Khi đọc chương sách này, mình không khỏi nhớ đến hoàn cảnh của thành phố Detroit. Detroit từng một thời là thủ phủ của ngành công nghiệp ô tô Mỹ, tuyển dụng hàng trăm nghìn lao động, nhưng trước sức ép từ các hãng sản xuất ô tô nước ngoài với chi phí nhân công rẻ hơn, ba hãng xe lớn của Mỹ cũng buộc phải di dời, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp của thành phố dâng cao, dân số sụt giảm, thâm hụt ngân sách. Năm 2013, Detroit đã phải nộp đơn xin bảo hộ phá sản với khoản nợ hơn 18 tỷ USD, trở thành thành phố lớn nhất nước Mỹ phá sản thời điểm đó.

Sự bất ổn và mâu thuẫn chính trị cũng từ đó mà ra. Những con người bị bỏ lại phía sau, trong một nền kinh tế tăng trưởng như vũ bão, sẽ không khỏi mang trong lòng những uất huận và thù hằn. Sự mâu thuẫn này phần nào giải thích cho kết quả bầu cử Mỹ vừa rồi, khi mà tổng thống Donald Trump đã tái đắc cử với tỷ lệ phiếu bầu rất cao từ những người lao động phổ thông khi ông đề xuất các biện pháp thuế quan để kêu gọi doanh nghiệp sản xuất quay trở lại Mỹ. Lúc này đây, ta có thể thấy rằng, người dân Mỹ đã bắt đầu không còn tin vào lý tưởng toàn cầu hóa và các hiệp định thương mại đa phương nữa.

Điều thú vị là, nếu tách vấn đề khỏi những tranh luận chính trị xung quanh Trump, ý tưởng rằng nền kinh tế Mỹ có khả năng tự cung tự cấp tương đối cao không phải hoàn toàn thiếu cơ sở. Trong cuốn sách, hai tác giả có đề cập đến một nghiên cứu khá thú vị mà theo mình có thể phần nào luận giải cho quan điểm của Trump. Đó là bài nghiên cứu của Costinot và Rodriguez-Chare, được phát hành vào tháng 03/2018, đi sâu vào việc bóc tách lợi ích mà Mỹ thu được từ thương mại. Theo ước tính của họ, lợi ích mà Mỹ thu được từ thương mại là khoảng 2,5% GDP (hoặc trong kịch bản hàng nhập khẩu rất khó bị thay thế thì con số đó có thể lên đến 4%). Hai tác giả đưa ra một so sánh khá thú vị: với tốc độ tăng trưởng 2,3% của Mỹ vào năm 2017, chỉ một năm tăng trưởng tốt đã gần tương đương với toàn bộ lợi ích mà thương mại đem lại, hay theo cách nói của họ, gần đủ để “trả giá” cho việc đưa nền kinh tế Mỹ vào trạng thái tự cung tự cấp hoàn toàn.

Tính tới thời điểm đó, tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu để tiêu dùng trực tiếp chỉ chiếm 8% tổng tiêu dùng của nước Mỹ, còn nếu tính thêm hàng hóa làm nguyên liệu sản xuất thì chỉ thêm 3,4% nữa của tổng lượng tiêu dùng. Đây có thể xem là một tỷ trọng khiêm tốn, và thực tế thì tỷ phần nhập khẩu của Mỹ thuộc hàng thấp nhất thế giới. Với một thị trường nội địa khổng lồ và cơ cấu sản xuất đa dạng, nếu thuế quan khiến cho hàng hóa nhập khẩu trở nên quá đắt đỏ, thì bản thân các nguồn lực trong nước Mỹ sẽ vẫn có khả năng dịch chuyển để sản xuất các mặt hàng thay thế. Điều thiệt hại ở đây chủ yếu chỉ là hiệu quả kinh tế: người Mỹ sẽ phải chi trả nhiều hơn cho cùng một món hàng mà họ đáng ra có thể nhập khẩu rẻ hơn từ nơi khác.

Tuy nhiên, theo mình thì con số vài phần trăm này chỉ nên được hiểu như là kết quả của một mô hình giả lập hơn là dự báo chính xác những gì sẽ diễn ra nếu Mỹ thật sự đóng cửa giao thương với quốc tế. Tổng thống Trump khi đòi áp mức thuế 200% lên Trung Quốc có lẽ đã quên mất rằng phía Trung Quốc đang nắm giữ vị thế thống trị chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu, là thành phần nguyên liệu trọng yếu cho ngành công nghiệp quốc phòng, hàng không vũ trụ và bán dẫn của Mỹ. Khi Trung Quốc đáp trả bằng việc ngừng xuất khẩu đất hiếm, Mỹ ngay lập tức phải xuống thang, bởi nếu không thì khả năng cao là họ sẽ đánh mất vị trí dẫn đầu về công nghệ, và điều này sẽ gây ra những thiệt hại to lớn không chỉ về kinh tế. Vậy nên trong thực tế, có những hàng hóa mà Mỹ bắt buộc phải nhập khẩu nếu muốn tiếp tục duy trì vị thế hiện tại, và bất kì sự đứt gãy thương mại nào cũng sẽ tạo ra những hiệu ứng dây chuyền mà các mô hình đơn giản khó phản ánh đầy đủ.

Quay trở lại về vấn đề lợi ích của thương mại tự do, ta có thể thể thấy rằng thương mại tự do đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều đối với các quốc gia nhỏ hơn và kém phát triển hơn, tiêu biểu như nhóm nước Đông Nam Á, Đông Nam Âu hoặc châu Âu. Khác với Mỹ, các quốc gia này có quy mô dân số nhỏ và thu nhập thấp, dẫn đến việc nhiều ngành nghề rất khó duy trì tổ chức sản xuất trên quy mô lớn. Đây là điều mình đặc biệt thấm thía khi đang làm việc cho một công ty trong ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam. Nếu không có thị trường nước ngoài, chi phí để chỉ sản xuất cho thị phần nội địa sẽ trở nên cực kì đắt đỏ, và khả năng duy trì ngành sẽ vô cùng khó khăn.

Việt Nam quê hương mình đã được hưởng lợi rất nhiều từ thương mại tự do, đây là điều không cần bàn cãi. Từ một quốc gia nghèo đói lạc hậu chỉ mới thoát khỏi chiến tranh năm 1975, giờ đây Việt Nam là nước có thặng dư thương mại hàng hóa lớn nhất với Mỹ, leo lên vị trí thứ 18 trong top 30 nền kinh tế xuất khẩu lớn nhất thế giới. Và trong sự phát triển này, nhập khẩu không hẳn là đối thủ của sản xuất trong nước, mà chính nhờ nó Việt Nam mới có nguyên liệu đầu vào để tạo ra các mặt hàng xuất khẩu. Lợi ích kinh tế của Việt Nam gắn chặt với thương mại tự do, và đó là một cấu trúc kinh tế rất khác với Mỹ.

Tuy nhiên, theo như tác giả Banerjee và Duflo chỉ ra, có một điểm này mà cả Mỹ và những nước kém phát triển hơn như Việt Nam đều giống nhau, đó là sự phân bổ không đồng đều của các lợi ích kinh tế tổng thể có được nhờ thương mại tự do. Đồng ý rằng tổng thu nhập của người dân ở những nước nghèo đều sẽ được cải thiện, nhưng trong một số trường hợp quá trình mở cửa còn có thể làm gia tăng những dạng bất bình đẳng sẵn có. Những lao động có trình độ, những người có sở hữu vốn hoặc ở những khu vực có hạ tầng phát triển, sẽ có mức thu nhập tăng nhanh hơn nhiều, tạo ra những khoảng cách ngày một lớn hơn giữa các thành phần trong xã hội. Xảy ra điều đó là vì các ngành xuất khẩu mới không nhất thiết sử dụng chính những người lao động vừa mất việc ở các ngành cũ. Công nghệ mới có thể đòi hỏi lao động có trình độ cao hơn; nhà máy mới có thể nằm ở một địa phương khác; còn người lao động thì, như chính tác giả đã phân tích ở phần nhập cư, không dễ dàng thay đổi nghề nghiệp hay chuyển nơi sinh sống.

Và đó chính là một trong những điều khiến mình vô cùng tâm đắc về cuốn sách này. Bởi hai tác giả đã không vẽ ra một bức tranh thương mại chỉ toàn màu hồng. Họ đi xa hơn những lợi ích bề mặt mà lý thuyết kinh tế học truyền thống thường mô tả, để bóc tách cho chúng ta biết ai đang thực sự hưởng lợi phía sau nó. Thương mại tự do không đơn giản là tốt hay xấu. Điều quan trọng là ta phải nhìn vào cách lợi ích được phân bổ, khả năng thích nghi của những nhóm chịu thiệt hại, để từ đó xây dựng nên những chính sách xã hội cần thiết, ngay cả khi việc này là vô cùng khó khăn.

Trong thời đại mà các căng thẳng chính trị ngày một leo thang, mình cho rằng Good Economics for Hard Times là một cuốn sách rất hay để giúp mọi người có một cái nhìn đa chiều và tỉnh táo hơn về các vấn đề kinh tế – xã hội. Quyển sách không cung cấp một lời giải cụ thể, nhưng ít nhất nó cho mình sự khiêm tốn để hiểu những câu hỏi lớn của xã hội hiếm khi có một đáp án đơn giản. Một chính sách có thể đem lại lợi ích cho số đông nhưng đồng thời khiến một nhóm người khác phải trả giá; một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhưng không phải ai cũng được hưởng lợi như nhau; và một lý thuyết nghe hoàn toàn hợp lý trên giấy vẫn có thể cho ra những kết quả rất khác khi đặt vào đời sống thực tế.

Có lẽ điều quan trọng nhất mình nhận được sau khi đọc cuốn sách không phải là biết mình nên đứng về phía nào trong từng cuộc tranh luận, mà là học cách chậm lại trước những kết luận tưởng như quá hiển nhiên: nhìn vào bằng chứng, đặt câu hỏi về những gì đang bị bỏ sót, và chấp nhận rằng thực tế thường phức tạp hơn rất nhiều so với những câu trả lời dễ dàng mà chúng ta muốn tin.

Bình luận về bài viết này